Đan rổ rá bắt đầu từ việc chọn tre: cây tre bánh tẻ thẳng gióng, không sâu, đem ngâm nước một thời gian cho bớt chất bột để khỏi mọt, rồi chẻ thành nan đều bản, vót nhẵn. Đan phần lòng theo kiểu đan cơ bản, uốn thành hình, cuối cùng nẹp vành bằng tre già và buộc lạt cho chắc. Người mới nên bắt đầu từ chiếc rổ đan thưa, vừa dễ, vừa ít phí tre.
Lúc nông nhàn, sau mùa gặt, nhiều làng quê xưa rộn tiếng dao chẻ tre. Ông đan rổ, bà đan rá, trẻ con vót nan. Đồ đan xong vừa dùng trong nhà, vừa mang ra chợ phiên. Nghề đan không còn nuôi nổi cả làng như xưa, nhưng biết đan vẫn là một cái nghề trong tay, và là cách dùng những buổi chiều nông nhàn có ích.
Chọn tre và ngâm tre: vì sao tre của ông bà ít mọt
Tre non thì mềm dễ chẻ nhưng nan yếu, khô lại co ngót, mau mọt. Tre già quá thì cứng, giòn, khó uốn. Tre bánh tẻ, thường là cây vài năm tuổi, thân xanh sẫm, có lớp phấn trắng, là loại đan tốt nhất. Mỗi vùng có loại tre, nứa, giang, mây riêng; nứa và giang mỏng, dẻo hợp đan đồ nhỏ.
Chặt tre vào mùa nào cũng có kinh nghiệm riêng. Nhiều người già nói chặt tre vào mùa khô, cuối năm, tre ít nhựa, ít mọt hơn. Kinh nghiệm này có cơ sở vì lúc đó thân tre chứa ít đường bột, thứ mà mọt thích.
Ngâm tre trong ao, dưới bùn một thời gian là cách xử lý truyền thống. Nước làm tan và rửa bớt đường bột trong thân tre. Tre ngâm xong vớt lên phơi khô trong bóng râm, rồi mới chẻ. Đồ đan từ tre ngâm kỹ bền gấp nhiều lần tre tươi.
Nhiều nhà còn gác tre đã chẻ lên gác bếp cho khói hun. Khói vừa làm tre khô đều vừa phủ lên một lớp làm mọt tránh xa.
Chẻ nan và vót nan
Cưa tre thành từng đoạn theo độ dài cần dùng. Cưa giữa hai mắt, bỏ phần mắt nếu làm nan dài.
Chẻ đôi, chẻ tư, rồi chẻ nhỏ dần. Dao chẻ đặt giữa, đẩy đều, hai tay tách đều hai bên để nan không bị lệch.
Tách lớp cật và lớp ruột. Cật là lớp vỏ xanh cứng, bền, dùng làm nan chính. Ruột bở, mềm, dùng làm nan phụ hoặc bỏ.
Vót cho nan đều bản, đều dày. Nan không đều thì đan ra lồi lõm, không kín.
Vót nhẵn cạnh. Cạnh sắc cứa tay người dùng và làm rách đồ đựng.
Nan cho lòng mỏng, nan cho vành dày. Lòng cần dẻo để đan, vành cần cứng để giữ hình.
Ngâm nan vào nước trước khi đan. Nan ướt dẻo, uốn không gãy.
Chẻ lạt để buộc. Lạt mỏng, dẻo, ngâm nước trước khi buộc.
Đeo găng hoặc quấn vải ngón tay. Người mới chẻ tre hay bị đứt tay. Dao chẻ phải sắc.
Ngồi đúng tư thế. Kê gỗ, ngồi ghế thấp, dao đẩy ra ngoài người.
Làm một mẻ nan đủ dùng. Nan để lâu khô cứng, phải ngâm lại.
Đan lòng rổ và nẹp vành
Bắt đầu từ đáy. Xếp nan theo hình chữ thập hoặc hình sao, đan các nan ngang qua để giữ chúng lại.
Kiểu lóng mốt. Một nan lên, một nan xuống, xen kẽ. Dễ nhất, hợp rổ thưa.
Kiểu lóng đôi, lóng ba. Hai hoặc ba nan lên, hai hoặc ba nan xuống, tạo hoa văn chéo, đan kín hơn.
Giữ khoảng cách đều giữa các nan. Rổ thưa thì khoảng cách rộng, rá vo gạo thì phải khít.
Dồn nan cho chặt sau mỗi hàng. Dùng tay hoặc que dồn các nan sát lại.
Uốn thành lòng. Khi đáy đủ rộng, bẻ các nan dọc lên để tạo thành thành rổ. Có khi đặt lên một khuôn tròn để uốn cho đều.
Đan tiếp thành rổ đến độ cao cần. Giữ thành đều, không lệch.
Làm vành bằng hai nan tre già. Một vòng trong, một vòng ngoài kẹp mép rổ.
Buộc vành bằng lạt hoặc mây. Buộc quấn quanh vành, siết chặt, đều tay.
Cắt bỏ đầu nan thừa. Cắt sát vành, vót nhẵn.
Hun khói hoặc phơi rồi mới dùng. Đồ đan mới hun khói trên gác bếp sẽ bền và có màu đẹp.
Những lỗi người mới đan hay mắc
Nan không đều là lỗi đầu tiên. Nan dày mỏng khác nhau thì đan xong rổ méo, chỗ căng chỗ chùng. Cái khó nhất của nghề đan không nằm ở đan mà ở chẻ và vót nan, người thợ giỏi vót nan như dùng thước.
Đan lỏng tay là lỗi thứ hai. Rổ đan lỏng dùng vài lần là bai, nan xô lệch. Mỗi hàng phải dồn chặt.
Dùng nan khô không ngâm. Nan gãy khi uốn thành lòng, nhất là ở chỗ bẻ góc. Ngâm nan trước khi đan và giữ ẩm trong lúc làm.
Làm vành yếu. Vành là xương sống của cái rổ; vành bằng nan mỏng thì rổ méo khi đựng nặng. Vành phải dùng tre già, đủ dày, buộc chặt. Đừng nản khi cái rổ đầu tiên méo mó, người thợ nào cũng bắt đầu như vậy.
Nghề đan lúc nông nhàn hôm nay còn ý nghĩa gì?
Nói thật, nghề đan tre khó nuôi sống cả gia đình như xưa, khi rổ nhựa rẻ bán khắp nơi. Những làng nghề còn trụ được thường làm hàng thủ công mỹ nghệ, đồ trang trí, xuất khẩu, chứ không còn chỉ rổ rá dùng hằng ngày.
Nhưng với nhà nông, biết đan vẫn có ích: tự làm được rổ rá, lồng gà, quây gà con, giàn, sọt đựng phân, những thứ nhà nào cũng cần. Tre sẵn trong vườn, chỉ tốn công lúc rảnh.
Đan lát còn là việc người già vẫn làm được khi không còn sức ra đồng, vừa giữ đôi tay khéo, vừa có cái để dạy con cháu. Nhiều cụ ngồi đan bên hiên mà kể chuyện làng, chuyện mùa màng.
Nếu làng mình còn người biết đan, hãy học trước khi nghề mất. Những kỹ thuật như chẻ nan, ngâm tre, hun khói không có trong sách mà nằm trong tay người thợ.
Câu hỏi thường gặp
Nên dùng tre gì để đan rổ?
Tre bánh tẻ thẳng gióng, không sâu là tốt. Nhiều vùng dùng nứa, giang, trúc tùy sẵn có. Giang và nứa mỏng, dẻo, hợp đan đồ nhỏ.
Ngâm tre bao lâu thì đủ?
Tùy loại tre và nguồn nước, kinh nghiệm mỗi làng khác nhau. Mục đích là rửa bớt chất bột, tre ngâm càng kỹ càng ít mọt. Hỏi người thợ đan trong vùng để biết thời gian quen dùng.
Đan rá vo gạo khác rổ thế nào?
Rá đan kín hơn, nan nhỏ và dồn chặt để hạt gạo không lọt. Thường đan kiểu lóng đôi hoặc lóng ba cho khít.
Làm sao để rổ không bị mốc?
Phơi khô sau khi dùng, treo lên chỗ thoáng, gần bếp càng tốt. Đồ tre đã hun khói ít mốc hơn.
Người mới học đan mất bao lâu?
Tùy khéo tay và người dạy. Đan được cái rổ thưa đơn giản thì không lâu, còn chẻ nan đều và đan đẹp cần làm nhiều. Học trực tiếp từ người thợ nhanh hơn tự mò.