Nuôi vịt ở vườn ao gia đình cần một chuồng khô ráo có nền cao để vịt ngủ và đẻ, một mặt nước như ao nhỏ hay máng đủ sâu để vịt nhúng đầu rửa mắt mũi, thức ăn là thóc, cám, rau bèo cộng với ốc, tép vịt tự kiếm, và lịch tiêm phòng theo hướng dẫn của thú y. Vịt ưa nước nhưng lại rất sợ nằm trên nền ướt, đó là điều người mới hay nhầm.
Hình ảnh đàn vịt lạch bạch xuống ao buổi sáng quen thuộc với làng quê khắp ba miền. Vịt khoẻ, dễ nuôi, ăn tạp, và nếu thả đúng cách còn dọn ốc, dọn cỏ cho ruộng. Nhưng vịt cũng làm bẩn nước rất nhanh, và một ao nhỏ nuôi quá nhiều vịt thì cả cá lẫn vịt đều bệnh.
Chuồng vịt phải khô dù vịt là con của nước
Nhiều người nghĩ vịt thích nước thì chuồng ẩm cũng không sao. Thực ra vịt bơi lội ban ngày, nhưng ban đêm cần ngủ trên chỗ khô. Nền chuồng ướt sũng phân và nước làm vịt bết lông, lạnh bụng, dễ bị bệnh và trứng đẻ ra bẩn.
Chuồng đặt trên chỗ đất cao, gần ao để vịt đi lại tiện, nhưng không sát mép nước. Nền lót trấu, rơm, thay thường xuyên. Nhiều nhà làm sàn tre cao hơn mặt đất một chút để phân lọt xuống dưới, vịt ngủ trên sàn khô.
Vịt uống nước rất nhiều và làm đổ nước ra khắp nơi. Máng uống nên đặt ở góc chuồng có rãnh thoát, hoặc để bên ngoài chuồng. Máng nước phải đủ sâu để vịt nhúng được cả mỏ và mắt, vì vịt dùng nước để rửa mũi, mắt; thiếu nước sâu vịt dễ bị bệnh mắt.
Vịt đẻ thường đẻ vào ban đêm hoặc sáng sớm. Làm ổ đẻ lót rơm ở góc chuồng và giữ vịt trong chuồng đến khi đẻ xong buổi sáng rồi mới thả, nếu không vịt đẻ rơi vãi dưới ao, bờ bụi.
Ao và mặt nước cho vịt
Vịt cần nước để tắm, không cần ao lớn. Ao nhỏ, mương, thậm chí chậu lớn thay nước thường xuyên cũng đủ cho vài con.
Không nuôi quá nhiều vịt trên ao cá nhỏ. Phân vịt làm nước giàu chất quá mức, tảo nở, sáng sớm cá nổi đầu.
Luân phiên thả ao. Có hai mặt nước thì thả vịt luân phiên để nước ao có thời gian hồi lại.
Chừa bờ thoai thoải cho vịt lên xuống. Bờ dốc đứng vịt con không lên được, dễ chết đuối khi mệt.
Vịt con chưa đủ lông không thả xuống nước. Vịt con mới nở chưa có lớp dầu chống thấm, xuống nước dễ lạnh và chết.
Tập cho vịt con xuống nước từ từ. Ngày nắng ấm, thả vào chậu nông một lúc rồi đưa lên, tăng dần thời gian.
Không thả vịt vào nước bẩn, nước tù. Mương thải chuồng heo, nước đọng hôi thối là nguồn bệnh.
Không thả vào ruộng vừa phun thuốc. Vịt ăn ốc, cá, cỏ dính thuốc có thể bị ngộ độc hàng loạt. Hỏi chủ ruộng trước.
Thả vịt vào ruộng lúa đúng lúc. Khi lúa đã cứng cây để vịt ăn cỏ, ăn ốc; rút ra trước khi lúa trổ để vịt không ăn bông.
Sau gặt, thả vịt dọn thóc rơi. Đó là cách vịt chạy đồng truyền thống, vừa có thức ăn vừa dọn ruộng.
Rào chắn vịt khỏi vườn rau. Vịt vặt rau non rất nhanh và giẫm nát luống.
Thức ăn và chăm sóc vịt
Thóc là thức ăn quen thuộc. Có nơi ngâm thóc cho mềm để vịt con dễ ăn.
Cám trộn rau băm, bèo. Vịt ăn thức ăn ướt tốt hơn thức ăn khô, trộn cám với nước và rau.
Ốc, tép, giun là đạm quý. Ốc bươu vàng bắt ở ruộng đập vỏ, nấu chín cho vịt ăn, vừa dọn ốc vừa có thức ăn.
Bèo tấm, bèo cái nuôi trong ao. Nguồn rau xanh sẵn có, vịt rất thích.
Luôn có nước khi cho ăn. Vịt vừa ăn vừa uống, thiếu nước dễ nghẹn.
Cho ăn đúng giờ. Vịt quen giờ ăn thì chiều tự về chuồng.
Vịt đẻ cần thêm canxi. Vỏ ốc nghiền, vỏ sò nung giúp vỏ trứng dày.
Tiêm phòng theo lịch thú y. Vịt có những bệnh dịch nguy hiểm như dịch tả vịt, cúm gia cầm. Tiêm theo hướng dẫn thú y xã.
Không tự dùng kháng sinh. Vịt ốm phải hỏi thú y, không mua thuốc về đoán bệnh.
Cách ly vịt mua về. Nhốt riêng một thời gian trước khi thả chung.
Vịt chết nhiều bất thường phải báo thú y. Không bán chạy, không vứt xác xuống sông, kênh.
Những rắc rối hay gặp khi nuôi vịt ở nhà
Rắc rối đầu tiên là nước ao bẩn nhanh. Người nuôi vịt trên ao cá cần hiểu rằng vịt là một nguồn phân liên tục. Lượng vịt vừa phải thì phân vịt nuôi tảo, nuôi cá. Quá nhiều thì nước xanh đặc, bốc mùi, cá chết. Nuôi ít, luân phiên, và quan sát màu nước là cách giữ cân bằng.
Rắc rối thứ hai là tiếng ồn và mùi với hàng xóm. Vịt kêu to, nhất là sáng sớm, chuồng vịt bẩn có mùi. Ở làng xóm đông đúc, đặt chuồng xa nhà hàng xóm và dọn chuồng thường xuyên để giữ hoà khí.
Rắc rối thứ ba là vịt đẻ bậy. Vịt thả sớm quá đẻ ở bờ ao, bụi cỏ, dưới nước, người nuôi mất trứng. Giữ vịt đẻ trong chuồng đến giữa buổi sáng là thói quen các cụ vẫn làm.
Rắc rối cuối cùng là chồn, rái cá, rắn, chim săn mồi bắt vịt con. Vịt con phải có quây kín ban đêm, ban ngày thả chỗ có người để mắt. Ở nhiều vùng, chuyện mất vịt con vì chim diều là chuyện hằng năm.
Nuôi ngan cạnh vịt: khác nhau ở đâu
Ngan, miền Nam gọi là vịt xiêm, là con nuôi quen ở nhiều nhà vì ít cần nước hơn vịt. Ngan có thể nuôi trong vườn chỉ với máng nước uống, ăn nhiều cỏ, rau xanh, và kêu ít hơn vịt.
Ngan mái ấp giỏi và nuôi con khéo, nhiều nhà dùng ngan mái ấp cả trứng vịt, trứng ngan. Thời gian ấp trứng ngan dài hơn trứng vịt và trứng gà, nên lịch ấp phải tính riêng.
Ngan bay được một đoạn ngắn, hay đậu lên tường, mái chuồng, cần rào cao hơn hoặc cắt bớt lông cánh. Ngan đực to và khá hung, không nên để trẻ con chơi gần.
Ngan cũng cần tiêm phòng theo thú y như vịt, và không nên nhốt chung chuồng ngan với vịt con hay gà con vì ngan lớn có thể đè, mổ con nhỏ. Thả chung vườn ban ngày được nếu vườn đủ rộng.
Câu hỏi thường gặp
Nuôi vịt không có ao được không?
Được, nhiều nhà nuôi vịt trong vườn với máng nước sâu và chậu tắm thay nước hằng ngày. Vịt vẫn cần nước đủ sâu để rửa mắt mũi, và chỗ ngủ phải khô.
Vịt con cần úm bao lâu?
Tuỳ thời tiết, vịt con cũng cần được giữ ấm những ngày đầu như gà con, cho đến khi lông tơ được thay bằng lông thật. Mùa rét cần úm lâu hơn.
Nuôi vịt chung với gà được không?
Không nên nuôi chung chuồng vì vịt làm ướt nền, gà dễ bệnh, và mỗi loài mang bệnh riêng. Có thể thả chung vườn ban ngày nhưng chuồng ngủ nên riêng.
Phân vịt có bón vườn được không?
Được, phân vịt trộn với lót chuồng đem ủ hoai rồi bón vườn. Phân vịt tươi ướt và nóng, bón trực tiếp dễ hại rễ rau.
Vì sao vịt bị chảy nước mắt, mắt dính?
Thường do thiếu nước sạch đủ sâu để vịt rửa mắt, chuồng bụi hoặc do bệnh. Bổ sung máng nước sâu sạch và hỏi thú y nếu nhiều con cùng bị.