Nuôi cá trắm cỏ ở ao nhà chủ yếu bằng thức ăn xanh: cỏ bờ, cỏ trồng, bèo tấm, lá sắn, lá chuối non, lá ngô, rau muống già. Thả cỏ vào một khung tre nổi cố định để cá ăn tập trung, cho lượng vừa đủ để cá ăn hết trong ngày, sáng hôm sau vớt phần thừa. Trắm cỏ ưa nước sạch, nên thay nước khi được và để ý những mùa chuyển tiết hay phát bệnh.
Trắm cỏ là con cá quen của ao làng: nó ăn thứ người có sẵn quanh nhà, lớn nhanh, thịt chắc. Cả nhà đi làm đồng về, người nào cũng tiện tay cắt một ôm cỏ ném xuống ao. Nhưng cũng vì ném cỏ tuỳ tiện mà nhiều ao cỏ thối đầy đáy, nước hôi, cá chết. Cho ăn đúng cách là chuyện nhỏ mà quyết định cả vụ.
Cá trắm cỏ ăn gì?
Cỏ non ở bờ ruộng, bờ mương. Cỏ mềm, non, cá ăn hết. Cỏ già cứng cá bỏ lại.
Cỏ voi, cỏ sả cắt non. Nhiều nhà trồng một khoảnh cỏ quanh ao để chủ động thức ăn.
Bèo tấm. Thức ăn rất tốt cho cá trắm nhỏ. Nuôi bèo tấm ở một góc ao hay chum riêng.
Lá sắn, lá chuối non, lá ngô. Nguồn lá sẵn có sau thu hoạch.
Rau muống, rau lang già. Phần già không dùng cho người thì cho cá.
Cây ngô non, thân chuối băm. Băm nhỏ cho cá dễ ăn.
Cám, bột ngô bổ sung. Cho thêm khi cỏ khan hiếm, giúp cá lớn đều.
Không cho cỏ từ ruộng mới phun thuốc. Một bao cỏ dính thuốc có thể làm chết cả ao.
Không cho cỏ thối, lá úa. Thức ăn thối làm cá bệnh đường ruột và bẩn nước.
Rửa cỏ ở vùng nghi bẩn. Cỏ bờ đường, bờ mương thải nên tránh lấy hoặc rửa kỹ.
Cỏ cắt về trong ngày. Cỏ để qua đêm dồn đống sẽ nóng và úa.
Khung cho ăn và lượng cho ăn
Khung cho ăn là một hình vuông hay chữ nhật ghép bằng cây tre, nổi trên mặt ao, buộc cố định vào cọc. Cỏ thả vào trong khung sẽ không trôi dạt khắp ao, cá quen đến đúng chỗ ấy để ăn. Người nuôi nhìn vào khung biết ngay cá ăn hết hay còn thừa.
Lượng cho ăn đo bằng mắt: sáng hôm sau ra khung thấy cỏ còn lại vài cọng cứng là vừa, còn nguyên đám là cho quá tay, sạch trơn là có thể tăng thêm. Không có con số cố định vì cá lớn dần, trời nóng cá ăn nhiều, trời lạnh cá ăn ít.
Cỏ thừa phải vớt lên. Để cỏ thừa chìm xuống đáy là nguồn thối rữa, tiêu hao ôxy, và mùa hè đó thường là nguyên nhân cá nổi đầu. Cỏ thừa vớt lên có thể ủ phân hoặc cho bò, lợn.
Nhiều nhà treo một túi vôi nhỏ ở góc khung cho ăn. Đây là kinh nghiệm cũ để giữ khu vực cá tập trung ăn bớt mầm bệnh. Túi vôi hết thì thay. Làm cách này cũng nên hỏi cán bộ thuỷ sản về lượng phù hợp với ao nhà mình.
Giữ nước ao cho trắm cỏ
Trắm cỏ ưa nước sạch. Nước quá bẩn, quá đặc tảo, cá trắm yếu đi trước các loài khác.
Thay một phần nước khi có thể. Lấy nước mới qua lưới lọc, xả bớt nước cũ ở tầng đáy.
Không đổ phân chuồng tươi nhiều vào ao. Phân tươi làm nước nhanh thối, ao nuôi trắm càng nhạy.
Giữ mức nước đủ sâu mùa hè. Nước nông nóng lên, cá bỏ ăn.
Vớt lá rụng, rác nổi. Giữ mặt ao sạch.
Để ý màu nước. Xanh nõn chuối là đẹp, xanh đen, nâu đỏ, có váng là cần thay nước.
Sáng sớm đi xem mặt ao. Cá nổi đầu đớp khí là dấu hiệu thiếu ôxy.
Giảm cho ăn khi trời oi bức. Trước cơn mưa giông, trời oi, cá dễ nổi đầu, cho ăn ít đi.
Tránh để nước mưa từ ruộng phun thuốc chảy vào. Chặn lối chảy tràn từ ruộng vào ao.
Không thả trắm quá dày. Ao nhỏ mà thả nhiều trắm thì không đủ cỏ và nước nhanh bẩn.
Ghép thêm mè, trôi. Giúp tận dụng phân trắm, giữ nước cân bằng.
Bệnh ở cá trắm cỏ và cách phòng
Người nuôi trắm cỏ hay sợ nhất là bệnh xuất huyết: cá bỏ ăn, bơi lờ đờ, da, vây, mang, miệng có đốm đỏ, có khi chết rải rác rồi chết nhiều. Bệnh hay xuất hiện vào những lúc giao mùa, khi nhiệt độ nước thay đổi. Người nuôi lâu năm ở miền Bắc thường dè chừng vào mùa xuân và cuối hè sang thu.
Phòng bệnh là chính: nước sạch, thức ăn sạch, không thả dày, cá giống khoẻ từ nguồn rõ ràng. Một số nơi có vắc xin hoặc biện pháp phòng bệnh cho trắm cỏ, hỏi trạm thuỷ sản hoặc khuyến nông địa phương.
Khi thấy cá có dấu hiệu bệnh, giảm hoặc ngừng cho ăn, vớt cá chết ngay và chôn xa ao, báo cán bộ thuỷ sản. Không tự mua kháng sinh trộn vào thức ăn theo lời mách, vì dùng sai vừa không khỏi vừa để lại dư lượng trong thịt cá.
Không xả nước ao bệnh ra kênh chung, không mang lưới, vợt của ao bệnh sang ao khác khi chưa phơi khô, ngâm vôi. Bệnh cá lây theo nước và dụng cụ rất nhanh.
Trồng sẵn nguồn cỏ quanh ao
Nguồn cỏ tự nhiên có lúc dồi dào, có lúc khan. Mùa đông miền Bắc cỏ bờ lụi, mùa khô miền Trung cỏ cháy vàng. Ao trắm cỏ mà trông cả vào cỏ dại thì những lúc ấy cá đói, gầy đi.
Nhiều nhà trồng một khoảnh cỏ voi hoặc cỏ sả trên bờ ao, bờ vườn. Cỏ cắt được nhiều lứa, lại giữ đất bờ không sạt. Trồng thành từng đám, cắt luân phiên để lúc nào cũng có đám cỏ non.
Bèo tấm nuôi trong một góc ao có quây nứa hoặc trong mương, chum, là nguồn thức ăn nhỏ cho trắm con. Bèo cần nước có chút phân để phát triển, thường người ta bón ít nước phân chuồng đã ủ vào chỗ nuôi bèo.
Rau muống thả mép ao cũng vậy, vừa cho người ăn ngọn, vừa cho cá ăn phần già. Một vòng khép kín quanh ao như vậy giúp nuôi trắm cỏ mà gần như không phải mua thức ăn.
Câu hỏi thường gặp
Cá trắm cỏ nuôi bao lâu thì thu hoạch?
Tuỳ cỡ giống, lượng thức ăn và nhiệt độ nước, nên thời gian nuôi khác nhau nhiều giữa các ao. Nhiều nhà nuôi qua một năm hoặc hơn, đánh tỉa những con lớn trước.
Cá trắm cỏ có ăn cám không?
Có, trắm cỏ ăn được cám, bột ngô, thức ăn viên. Nhưng thức ăn xanh vẫn nên là chính để cá khoẻ và chi phí thấp.
Vì sao cá trắm nhảy lên khỏi mặt nước?
Có thể do nước ao có vấn đề như thiếu ôxy, có chất lạ, hoặc do cá bị ký sinh ngứa ngáy. Quan sát thêm các dấu hiệu khác và hỏi cán bộ thuỷ sản nếu kéo dài.
Nuôi trắm cỏ trong ao nhỏ có được không?
Được với số lượng ít và phải giữ nước sạch. Ao nhỏ nhanh bẩn hơn ao lớn nên càng phải vớt cỏ thừa đều đặn.
Cho cá trắm ăn lá sắn có độc không?
Nhiều nơi vẫn dùng lá sắn cho cá trắm với lượng vừa phải, trộn với cỏ khác. Không nên cho ăn toàn lá sắn trong thời gian dài. Hỏi thêm kinh nghiệm địa phương về giống sắn đang trồng.