Trước mỗi vụ thả cá mới, ao nên được tát cạn, bắt hết cá cũ, cá tạp, cá dữ; vét bớt lớp bùn đen dày ở đáy; sửa bờ, sửa cống; rải vôi đều khắp đáy và mái bờ; phơi đáy vài nắng cho đến khi mặt bùn se lại, nứt chân chim; rồi mới cho nước vào qua lưới lọc và gây màu. Ao được cải tạo đều đặn thì cá ít bệnh và lớn nhanh hơn hẳn.
Ngày tát ao ở làng quê từng là ngày hội: cả nhà, hàng xóm lội bùn, trẻ con mò cá rô, cá trê trong vũng. Nhưng đằng sau cái vui ấy là một việc kỹ thuật có lý do rõ ràng: đáy ao sau vài năm nuôi tích bùn đen, khí độc, mầm bệnh và trứng cá tạp. Không dọn thì vụ sau cá chết lai rai mà không biết vì sao.
Vì sao ông bà tát ao mỗi năm hoặc vài năm một lần?
Mỗi ngày trong ao có lá rụng, phân cá, thức ăn thừa, xác tảo chìm xuống đáy. Lớp bùn dày lên theo năm tháng. Bùn mỏng ở đáy là tốt, là nơi ở của giun, ốc, ấu trùng làm thức ăn cho cá. Nhưng bùn dày quá thì phần dưới thiếu ôxy, thối rữa, sinh khí độc có mùi trứng thối.
Ao bùn dày, sáng sớm cá hay nổi đầu, mùa hè cá chết rải rác, nước chóng xanh đặc rồi đột ngột chuyển màu. Đó là những dấu hiệu ao đã cần cải tạo.
Tát ao còn là cách duy nhất để loại hết cá tạp và cá dữ như cá quả, cá trê, lươn. Chúng lọt vào qua cống, qua nước mưa tràn, ăn cá giống mới thả và tranh thức ăn. Không tát cạn thì không bao giờ bắt hết.
Bùn vét lên lại là một thứ quý. Bùn ao được các cụ gọi là phân, mang bồi cho vườn, cho gốc cây ăn trái, cho ruộng màu. Một vòng khép kín: vườn cho lá rụng xuống ao, ao trả bùn lại cho vườn.
Các bước tát ao và bắt cá
Chọn lúc nắng ráo. Mùa khô hoặc thời gian nắng kéo dài để phơi được đáy.
Hạ nước từ từ qua cống thoát. Nếu cống xả được thì tháo trước phần lớn nước, đỡ công tát.
Tát phần còn lại bằng gầu hoặc máy bơm. Gầu dai hai người kéo dây, gầu sòng một người, nay nhiều nhà thuê máy bơm.
Kéo lưới bắt cá lớn trước. Khi nước còn nửa ao, kéo lưới vét bớt cá lớn để cá không bị dập trong bùn.
Bắt cá ở hố thu gần cống. Cá dồn vào chỗ trũng nhất, dùng vợt, rổ xúc.
Tách cá để giống, cá ăn, cá tạp. Cá giống nhỏ khoẻ thả tạm vào bể, chum, ao khác có nước sạch.
Bắt hết cá dữ, lươn, trạch. Mò kỹ các hang ở chân bờ, dưới bùn.
Nhặt rác, cành cây, vật cứng dưới đáy. Chúng làm rách lưới và là chỗ trú cho cá tạp.
Không để trẻ nhỏ lội bùn sâu không có người lớn. Bùn ao có chỗ lún sâu, mảnh sành, vỏ trai sắc.
Rửa tay chân kỹ sau khi lội bùn. Bùn ao thối có thể gây nhiễm trùng vết xước.
Sơ chế cá bắt được ngay. Cá nhiều thì chia cho hàng xóm, làm mắm, phơi khô, không để hỏng.
Vét bùn, sửa bờ, sửa cống
Vét lớp bùn đen có mùi hôi. Để lại một lớp bùn mỏng màu nâu xám ở đáy, không vét trơ đất sống.
Dùng xẻng, thuổng, xô. Ao nhỏ vét tay, chuyển bùn lên bờ bằng xô, gánh.
Đổ bùn lên chỗ xa mép bờ. Bùn nặng đổ sát mép làm sạt bờ và trôi ngược xuống ao khi mưa.
Phơi bùn khô trước khi dùng. Bùn ướt quá thối, phơi cho se rồi mới vun gốc cây hay trộn đất.
Đắp lại chỗ bờ sạt. Lấy đất sét dẻo đắp từng lớp, nện chặt.
Lấp hang cua, hang chuột. Lúc ao cạn là lúc nhìn rõ nhất các lỗ rò ở chân bờ.
Sửa cống, thay lưới chắn. Lưới rách là cửa cho cá tạp năm sau.
San phẳng đáy, giữ độ dốc về cống. Lấp chỗ trũng lạ, khơi lại rãnh giữa đáy.
Phát cỏ bờ, tỉa cây che mặt ao. Bớt lá rụng và cho nắng xuống mặt nước.
Kiểm tra chỗ nước thải có chảy vào ao không. Nếu có, tìm cách chuyển hướng trước khi cho nước mới vào.
Ghi lại độ dày bùn đã vét. Để biết bao lâu nữa phải vét lại.
Bón vôi và phơi đáy: làm sao cho đúng, cho an toàn
Vôi được rải đều khắp đáy ao và mái bờ, cả những chỗ còn ướt, vũng nước đọng, hang hốc ở chân bờ. Vôi giúp giảm chua cho đáy ao, diệt bớt mầm bệnh, trứng và cá tạp còn sót. Lượng vôi tuỳ độ chua của đất và độ dày bùn, nên hỏi cán bộ khuyến nông thuỷ sản ở địa phương, đừng đoán.
Vôi bột, nhất là vôi sống, rất nóng và ăn da. Người rải phải đeo khẩu trang, kính, găng tay, mặc áo dài tay, đi ủng, đứng xuôi chiều gió. Không để trẻ con, gia súc lại gần. Vôi bắn vào mắt phải rửa ngay bằng nhiều nước sạch và đi khám.
Sau khi rải vôi, để ao phơi nắng vài ngày đến khi mặt bùn se lại, có vết nứt chân chim. Phơi đáy giúp bùn thoáng khí, khí độc thoát ra, chất hữu cơ phân huỷ nhanh. Không cần phơi đến khi đáy nứt toác sâu.
Cho nước vào qua túi lưới lọc, từng phần. Bón thêm phân chuồng hoai ngâm hoặc rải để gây màu nước. Khi nước chuyển màu xanh nõn chuối, đó là lúc thả cá. Ao vôi chưa đủ ngày, nước còn quá kiềm, thả cá ngay có thể làm cá chết.
Dùng bùn ao cho vườn: cái lợi và mấy điều cẩn thận
Bùn ao đã phơi se là thứ đất màu mỡ. Các cụ dùng để vun gốc cây ăn trái, đắp lên liếp rau, trộn với rơm ủ phân, hoặc làm đất bầu ươm cây. Vườn cạnh ao nhờ vậy mà tốt quanh năm.
Bùn vừa vét còn nhiều chất thối, đắp ngay lên gốc rau có thể làm vàng rễ. Nên phơi hoặc ủ một thời gian cho mùi hôi mất đi, bùn chuyển màu nâu xám.
Ao từng nhận nước thải từ xưởng, từ khu công nghiệp, hay nước ruộng phun thuốc nhiều năm thì bùn có thể tích chất độc. Bùn loại đó không nên dùng cho rau ăn lá. Nếu nghi ngờ, hỏi phòng kinh tế xã về việc kiểm tra.
Bùn mặn ở vùng ven biển cũng cần cẩn thận, rửa mặn bằng nước mưa trước khi dùng cho cây không chịu mặn.
Câu hỏi thường gặp
Bao lâu thì nên tát ao một lần?
Tuỳ ao nuôi dày hay thưa, lá rụng nhiều hay ít. Nhiều nhà tát mỗi năm sau vụ thu cá, có nhà vài năm một lần. Khi thấy bùn dày, nước hay có mùi, cá hay nổi đầu thì nên tát.
Không tát cạn được thì cải tạo ao thế nào?
Có thể hạ nước thấp nhất có thể, kéo lưới bắt cá, rồi dùng vôi hoà nước té đều. Hiệu quả kém hơn tát cạn và phơi đáy, nhưng vẫn giúp ích.
Có dùng thuốc để diệt cá tạp trong ao không?
Một số người dùng các chất diệt cá tạp, nhưng nhiều chất độc với người và môi trường. Hỏi cán bộ thuỷ sản trước, tuyệt đối không dùng chất không rõ nguồn gốc. Tát cạn và bón vôi vẫn là cách an toàn nhất.
Bón vôi xong bao lâu thì cho nước vào?
Thường sau khi đã phơi đáy vài ngày. Thời gian cụ thể tuỳ lượng vôi và thời tiết, nên theo hướng dẫn của khuyến nông địa phương.
Ao nuôi vịt có cần tát thường xuyên hơn không?
Có, vì phân vịt làm đáy ao nhanh dày bùn và nước giàu chất. Ao vừa nuôi cá vừa thả vịt nên để ý màu nước và mùi đáy nhiều hơn.