ThuanNong.comThuần Nông
Nông lịch và thời tiết

Bài ca nông lịch mười hai tháng: đọc lại lịch làm việc xưa

Bài ca "Tháng chạp là tháng trồng khoai, tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà" là lịch việc nhà nông đồng bằng Bắc Bộ tính theo tháng âm lịch; nó vẫn đúng về trình tự việc trong năm, nhưng ngày cụ thể đã đổi vì giống mới, vụ đông và khí hậu.

Hiên nhà ngói với cuốc, liềm, nón treo trên vách lúc trời mưa

Bài ca "Tháng chạp là tháng trồng khoai, tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà, tháng ba cày vỡ ruộng ra, tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng" là một cuốn lịch việc của nhà nông đồng bằng Bắc Bộ, tính theo tháng âm lịch. Nó vẫn đúng về trình tự việc trong năm và lý do đằng sau, nhưng ngày cụ thể đã lệch nhiều vì giống lúa ngắn ngày, vụ đông mới và khí hậu đổi.

Bài ca có nhiều dị bản, mỗi làng hát một kiểu. Có bản bắt đầu từ tháng giêng ăn chơi, có bản bắt đầu từ tháng chạp trồng khoai. Điểm chung là chúng xếp công việc cả năm theo mùa, để con cháu học thuộc mà không cần sách. Đọc lại bài ca với con mắt người làm ruộng hôm nay là cách hay để hiểu vì sao ông bà làm việc theo thứ tự đó.

Vì sao bắt đầu từ tháng chạp?

Tháng chạp âm lịch là cuối năm, trời rét, ruộng lúa mùa đã gặt xong. Đất ruộng khô ráo, người làm ruộng tranh thủ trồng khoai lang, khoai tây trên đất bãi, đất màu. Khoai trồng tháng chạp, qua mấy tháng rét và xuân ấm, đến đầu hè là thu.

Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà. Đầu năm âm lịch trời vẫn lạnh, đậu chịu lạnh khá hơn cà. Sang tháng hai, trời ấm dần, cà mới trồng được. Trình tự ấy phản ánh đúng khả năng chịu rét của từng cây.

Nhưng ở nhiều bản khác lại có câu "tháng giêng là tháng ăn chơi". Hai câu không mâu thuẫn: tháng giêng có Tết, có hội, việc đồng áng nhẹ, người ta vừa chơi vừa làm những việc nhỏ như trồng đậu, chăm mạ chiêm.

Bắt đầu từ tháng chạp cho thấy với nhà nông, năm mới của đồng ruộng không trùng với năm mới của lịch. Vòng việc đồng áng chạy liên tục, không có điểm dừng.

Mười hai tháng việc ruộng theo nếp cũ ở Bắc Bộ

Tháng chạp. Trồng khoai, cày ải phơi đất, chuẩn bị giống cho vụ chiêm, sửa nông cụ.

Tháng giêng. Tết và hội làng, trồng đậu, chăm mạ và cấy chiêm ở những nơi cấy sớm.

Tháng hai. Trồng cà, cấy dặm, làm cỏ lúa chiêm, trồng cây ăn trái, giâm cành.

Tháng ba. Cày vỡ ruộng màu, thu đậu, chăm lúa chiêm đẻ nhánh, tháng giáp hạt nhiều nhà thiếu ăn.

Tháng tư. Làm mạ mùa ở nhiều nơi, lúa chiêm trổ bông, mưa bắt đầu nhiều.

Tháng năm. Gặt chiêm, phơi thóc, cày bừa cho vụ mùa. Việc dồn dập nhất năm.

Tháng sáu. Cấy lúa mùa, nắng nóng, mưa giông, giữ nước ruộng.

Tháng bảy. Làm cỏ, bón lúa mùa, lo mưa lụt, canh đê. "Tháng bảy nước nhảy lên bờ" là nói mùa lũ.

Tháng tám. Lúa mùa đẻ nhánh, làm đòng. Trời bắt đầu dịu, có hội mùa thu.

Tháng chín. Lúa mùa trổ, chuẩn bị gặt sớm, gieo ươm rau vụ đông.

Tháng mười. Gặt lúa mùa, "tháng mười cơm mới", làm cốm, trồng rau màu vụ đông.

Những chỗ không còn khớp với ruộng đồng hôm nay

Chỗ lệch lớn nhất là giống lúa. Giống lúa xưa dài ngày, một vụ kéo dài nhiều tháng. Giống lúa ngắn ngày ngày nay rút ngắn vụ, nên ngày gieo mạ, cấy, gặt đều khác với bài ca. Nhiều vùng Bắc Bộ nay cấy chiêm xuân vào khoảng Lập xuân và gặt vào tháng năm, tháng sáu dương lịch.

Chỗ lệch thứ hai là vụ đông. Ngày xưa vụ đông chủ yếu là khoai, rau quanh nhà. Từ nhiều năm nay, vụ đông trên đất hai lúa như ngô, khoai tây, rau màu được làm đại trà, chen giữa vụ mùa và vụ chiêm xuân. Lịch cũ không có khoảng trống đó.

Chỗ lệch thứ ba là tháng âm lịch. Bài ca tính theo tháng âm, mà năm nhuận thì cả lịch lùi gần một tháng. Người xưa tự điều chỉnh theo tiết khí và theo mắt nhìn trời, nhưng người đọc bài ca hôm nay dễ hiểu theo nghĩa đen.

Chỗ lệch cuối cùng là khí hậu. Rét muộn, nắng sớm, mưa bão trái mùa làm các mốc trong bài ca kém chính xác hơn. Bài ca giữ giá trị văn hoá và giá trị trình tự, còn ngày cụ thể phải theo lịch thời vụ địa phương.

Học gì từ bài ca nông lịch hôm nay

Việc nào cũng có mùa của nó. Làm sớm hay muộn đều thiệt, lịch là để nhắc.

Trình tự quan trọng hơn ngày. Làm đất trước gieo mạ, gieo mạ trước cấy, cấy trước làm cỏ. Ngày có thể lệch, trình tự thì không.

Cây chịu rét trồng trước, cây ưa ấm trồng sau. Đậu trước cà, khoai trong rét, cà khi ấm.

Tận dụng thời gian nông nhàn. Bài ca có chỗ cho ăn chơi, hội hè, và cho nghề phụ.

Chuẩn bị trước mùa bão lụt. Tháng bảy tháng tám là lúc canh đê, canh bờ.

Giữ lương thực qua tháng giáp hạt. Tháng ba, tháng tám là những tháng giáp hạt cũ, nhà nông phải để dành.

Luân phiên lúa và màu. Khoai, đậu, cà xen giữa các vụ lúa là luân canh tự nhiên.

Học thuộc bằng vần. Cách truyền kinh nghiệm cho người không biết chữ, và vẫn là cách dạy trẻ con dễ nhất.

Mỗi làng có bản riêng. Bài ca thay đổi theo đất, theo giống của từng vùng. Lịch thời vụ cũng vậy.

Không chép cứng lịch cũ. Dùng làm khung, cập nhật theo lịch thời vụ khuyến nông địa phương.

Ghi lịch việc của nhà mình. Một bài ca nông lịch hiện đại có thể chỉ là một trang sổ ghi việc từng tháng của chính nhà mình.

Nông lịch ở miền Trung và miền Nam khác thế nào?

Bài ca tháng chạp trồng khoai là của Bắc Bộ. Ở miền Trung, mùa mưa lũ rơi vào cuối năm, nên vụ lúa chính thường là vụ đông xuân gieo sau lũ và vụ hè thu tránh gió Lào, gặt trước mùa lũ. Việc ruộng được xếp để né mưa lũ.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, nông lịch xoay quanh con nước. Mùa nước nổi từ khoảng giữa năm đến cuối năm, ruộng ngập. Người ta làm vụ đông xuân khi nước rút, vụ hè thu trước lũ, và có nơi làm thêm vụ thu đông nếu có đê bao.

Mỗi vùng có những câu nói riêng về mùa màng, như chuyện ăn Tết xong là xuống giống đông xuân ở miền Tây, hay chuyện mùa nước nổi bắt cá linh, hái bông điên điển.

Nếu nhà ở miền Trung hay miền Nam, hãy hỏi người già về lịch việc của vùng mình. Đó là một bài ca nông lịch khác, cũng quý không kém.

Câu hỏi thường gặp

Bài ca "tháng chạp là tháng trồng khoai" có bao nhiêu câu?

Bài ca có nhiều dị bản, dài ngắn khác nhau tùy vùng, bản đầy đủ kể việc gần như cả năm. Câu mở đầu thì hầu như giống nhau ở các bản.

Tháng giêng là tháng ăn chơi có đúng không?

Đúng với nếp xưa ở nhiều làng Bắc Bộ: tháng giêng có Tết, có hội, việc đồng áng nhẹ. Nay nhiều nơi phải cấy chiêm xuân ngay đầu năm nên tháng giêng vẫn bận.

Tháng giáp hạt là tháng nào?

Là khoảng thời gian thóc vụ trước đã ăn gần hết mà vụ sau chưa gặt. Ở Bắc Bộ xưa thường là tháng ba và tháng tám âm lịch.

Có nên trồng rau theo bài ca nông lịch?

Có thể dùng làm gợi ý về thứ tự và mùa, nhưng nên đối chiếu với lịch thời vụ địa phương và dương lịch, vì tháng âm xê dịch mỗi năm.

Vì sao gọi là vụ chiêm và vụ mùa?

Ở Bắc Bộ, vụ chiêm là vụ lúa cấy trong mùa đông xuân, gặt đầu hè. Vụ mùa là vụ lúa cấy mùa hè, gặt cuối thu. Tên gọi có từ lâu và vẫn dùng đến nay.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183