Lúa nên gặt khi khoảng tám đến chín phần mười số hạt trên bông đã ngả vàng, chỉ còn mấy hạt ở cuối gốc bông hơi xanh, cắn hạt thấy cứng giòn chứ không còn sữa. Gặt sớm hơn thì hạt non, gạo bạc bụng và hao; gặt muộn thì hạt rụng xuống ruộng, cổ bông gãy, gặp mưa là mọc mầm ngay trên cây.
Mùa gặt ở làng luôn là cuộc chạy đua với trời. Cả năm làm lụng dồn vào mấy ngày, và chỉ một trận mưa dầm lúc lúa đang nằm ngoài ruộng là mất một phần công sức. Vì thế kinh nghiệm gặt của ông bà không chỉ là cầm liềm, mà là chuyện xem trời, chia việc và chuẩn bị sân phơi từ trước.
Nhận biết lúa đã chín để gặt
Nhìn màu bông, không nhìn màu lá. Lá có thể còn xanh khi hạt đã chín, nhất là ruộng bón nhiều. Màu hạt mới là thước đo.
Đếm nhanh phần hạt vàng trên bông. Cầm vài bông ở giữa ruộng, thấy phần lớn hạt đã vàng, chỉ vài hạt cuối bông hơi xanh là được.
Cắn hạt thóc. Hạt chín cắn thấy cứng, gãy giòn. Hạt còn dẻo, có sữa là chưa đủ ngày.
Bông lúa cong cúi xuống. Bông nặng hạt thì cổ bông cúi. Bông còn đứng thẳng thường nhiều hạt lép.
Xem ở giữa ruộng, không xem ở bờ. Lúa bờ chín trước vì ăn nắng nhiều. Xem ở bờ dễ gặt sớm.
Để ý giống lúa. Có giống rụng hạt dễ, phải gặt đúng lúc; có giống bám hạt chắc, để thêm được vài ngày.
Lúa đổ thì gặt sớm hơn. Bông nằm sát nước dễ mọc mầm và thối, nên ưu tiên gặt chỗ đổ trước.
Xem dự báo thời tiết. Nếu sắp có đợt mưa dài, gặt sớm hơn một chút vẫn hơn để lúa ngập ngoài đồng.
Tháo nước ruộng trước đó. Ruộng khô thì gặt nhanh, bó lúa không ướt, người đi lại đỡ mệt.
Chuẩn bị sân phơi, nong nia, bạt trước. Lúa gặt về mà không có chỗ phơi thì chính trong đống lúa sẽ bốc nóng.
Hẹn người vần công. Làng quê xưa đổi công gặt cho nhau. Ruộng nào chín trước gặt trước.
Gặt bằng liềm: nhanh tay mà ít rụng hạt
Người gặt khom người, tay trái vơ một nắm lúa ngang thân, tay phải đưa liềm cắt ở độ cao khoảng một phần ba thân tính từ gốc. Cắt thấp quá thì bó nặng, lẫn cỏ; cắt cao quá thì khó bó, rơm để lại nhiều. Nhiều vùng cắt cao, để rạ lại ruộng rồi vùi làm phân.
Liềm phải sắc. Liềm cùn phải giằng mạnh tay, bông lúa lắc nhiều, hạt rụng lả tả. Người gặt lâu năm mang theo hòn đá mài nhỏ, cứ một lúc lại vuốt lưỡi liềm vài cái. Gặt lúc sáng sớm khi còn sương thì lúa ít rụng hơn giữa trưa hanh khô, nhưng bó lúa ướt thì phải phơi sớm.
Mỗi lần vơ được một nắm, đặt ra sau thành lượm, các lượm để gốc cùng một hướng. Các lượm gộp lại thành bó, buộc bằng chính rơm lúa. Đặt bó lúa trên gốc rạ cho đỡ ướt, không đặt xuống vũng nước.
Chuyển lúa về nhà bằng đòn gánh, xe cải tiến hoặc thuyền ở vùng sông nước. Gánh lúa thì hai bó cân nhau, bông quay vào trong để khỏi quệt rụng. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhiều nơi tuốt lúa ngay ngoài ruộng rồi mới chở thóc về, đỡ công vận chuyển.
Đập lúa, tuốt lúa và việc phải làm ngay trong ngày
Cách cổ nhất là đập lúa: cầm lượm lúa đập mạnh vào một tấm ván hay cái thùng gỗ đặt nghiêng trên bạt, hạt rụng ra. Sau đó là máy tuốt đạp chân, một trống quay có răng thép, người đạp bàn đạp và đưa bông vào tuốt. Ngày nay nhiều nơi thuê máy tuốt chạy dầu hoặc máy gặt đập liên hợp.
Dù đập bằng cách nào, thóc vừa tuốt vẫn còn ẩm và lẫn rơm vụn, lá, hạt lép. Việc đầu tiên là sàng qua cho sạch rơm, rồi rải ra phơi ngay. Đống thóc tươi ủ nguyên qua đêm sẽ bốc nóng, hạt vàng, gạo có mùi. Người ta gọi là thóc bị hấp hơi, gạo mất ngon hẳn.
Gặp mưa không phơi được thì phải rải mỏng thóc ra nền nhà, hiên, nong nia, bật quạt, đảo nhiều lần. Rải mỏng trong nhà vẫn tốt hơn chất đống. Lúa chưa tuốt thì dựng bó đứng, bông hướng lên, để thoáng thay vì xếp chồng.
Rơm sau khi tuốt thì phơi khô để làm chất đốt, lót chuồng, cho trâu bò ăn hoặc ủ phân. Đó là lý do nhà nông xưa không bao giờ coi rơm là rác. Đốt rơm ngoài ruộng vừa phí, vừa gây khói cả làng.
Những rủi ro mùa gặt và cách tránh
Gặt muộn, hạt rụng nhiều. Đi thăm ruộng hằng ngày khi lúa ngả vàng, đừng đợi vàng hết mới gặt.
Lúa đổ ngâm nước mọc mầm. Gặt chỗ đổ trước, dựng bó lúa cao ráo.
Ủ đống thóc tươi qua đêm. Rải mỏng ngay trong ngày, dù chưa kịp phơi.
Phơi thóc trên đường nhựa. Nguy hiểm cho người đi đường và thóc lẫn bụi bẩn. Phơi trên sân, bạt, nong.
Liềm cùn, giằng mạnh. Mài liềm trước mùa, mang đá mài theo.
Để trẻ nhỏ chơi gần máy tuốt. Trống tuốt quay nhanh, rất dễ cuốn tay áo, tóc. Giữ trẻ xa.
Người đứng máy tuốt không che mặt. Bụi lúa và râu thóc gây ngứa, hắt hơi. Đeo khẩu trang, kính, áo dài tay.
Gặt trong nắng gắt cả ngày. Chia việc sáng sớm và chiều, uống đủ nước. Say nắng, kiệt sức mùa gặt là chuyện thường gặp.
Bỏ lại bông rơi trên ruộng. Ngày trước trẻ con đi mót lúa. Cho vịt ra ruộng sau gặt vừa sạch thóc rơi vừa có thức ăn.
Đốt rạ ngay sau gặt. Có thể cày vùi, ủ hoặc để mục. Đốt gây khói và mất chất hữu cơ.
Không để riêng lúa giống. Muốn để giống thì chọn khoảnh tốt nhất, gặt riêng, phơi riêng trước.
Tổ chức một ngày gặt cho gọn
Một ngày gặt suôn sẻ bắt đầu từ tối hôm trước: mài liềm, chuẩn bị dây buộc, đòn gánh, bạt, dọn sân phơi, kiểm tra máy tuốt nếu có. Sáng ra đồng khi còn mát, việc gì cũng đã sẵn.
Chia người theo việc: người gặt, người bó, người gánh hoặc chở, người ở nhà đón lúa và tuốt. Nếu tất cả cùng gặt rồi mới cùng gánh, lúa nằm ngoài ruộng lâu và dồn việc về cuối ngày lúc ai cũng mệt.
Cơm trưa mang ra đồng hoặc có người ở nhà nấu. Ngày trước, bữa cơm giữa đồng mùa gặt với bát canh cua, quả cà là một phần của ký ức làng quê. Nghỉ trưa dưới bóng cây, tránh gặt lúc nắng đỉnh đầu.
Cuối ngày, dù mệt đến đâu, thóc tuốt trong ngày phải được rải mỏng hoặc phơi. Lúa chưa tuốt thì dựng bó, che bạt nếu trời có dấu hiệu mưa. Nhìn trời chiều để quyết định mai gặt tiếp thửa nào, và nhắn người vần công từ tối.
Câu hỏi thường gặp
Lúa chín bao nhiêu ngày thì gặt?
Số ngày từ trổ bông đến chín khác nhau theo giống và theo mùa, trời nóng chín nhanh hơn trời mát. Nhìn độ vàng của hạt và cắn thử là chắc nhất, còn số ngày chỉ để ước lượng.
Thóc bị mọc mầm trên bông có ăn được không?
Hạt đã nảy mầm thì gạo xay ra kém ngon, dễ vỡ và nhanh mốc. Nên tách riêng, phơi thật khô và dùng sớm hoặc cho gia cầm. Hạt có mốc xanh, mốc đen thì bỏ.
Gặt lúa buổi sáng có sương có sao không?
Gặt lúc có sương hạt ít rụng hơn, nhưng bó lúa ướt nên cần phơi hoặc tuốt sớm. Nếu không phơi ngay được thì nên gặt khi sương đã tan.
Vì sao thóc phơi xong vẫn có mùi hôi?
Thường do thóc đã bị ủ nóng trước khi phơi, hoặc phơi chưa đủ khô rồi cất. Mùi đó khó mất hẳn. Lần sau rải mỏng ngay sau khi tuốt và phơi đến khi cắn hạt kêu giòn.
Rơm rạ sau gặt nên làm gì?
Rơm phơi khô làm chất đốt, thức ăn cho trâu bò, lót chuồng, trồng nấm rơm hoặc ủ làm phân. Rạ gốc có thể cày vùi lại ruộng. Đốt ngoài đồng là cách lãng phí nhất.